Luật sỡ hữu trí tuệ là luật quy định về quyền tác giả, quyền liên quan tới quyền tác giả, quyền với công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ những quyền ấy. Luật bản quyền Việt Nam, được Quốc hội Việt Nam khoá XI trong kỳ họp thứ 8 duyệt ngày 29/11/2005 và chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2006. Tìm hiểu thêm >>> vietnam company law Luật sở hữu trí tuệ bao gồm các quy định về: Quyền với trí tuệ: Quyền của doanh nghiệp, tư nhân đối với tài sản trí não, bao gồm quyền tác giả và quyền can dự tới quyền tác giả, quyền với công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Quyền tác giả: Quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc với Quyền liên quan đến quyền tác giả: Quyền của doanh nghiệp, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, dấu hiệu vệ tinh với chương trình được mã hóa. Tìm hiểu thêm >>> Luật sư mua bán sáp nhập Quyền với công nghiệp: Quyền của tổ chức, tư nhân đối với sáng chế, bề ngoài công nghiệp, mẫu mã bố trí mạch tích hợp bán dẫn, thương hiệu, tên thương mại, hướng dẫn địa lý, bí ẩn buôn bán do mình thông minh ra hoặc với và quyền chống khó khăn không lành mạnh Quyền đối với giống cây trồng: Quyền của tổ chức, tư nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và tăng trưởng hoặc thừa hưởng quyền với Tên thương mại: Tên gọi của đơn vị, cá nhân sử dụng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể buôn bán với tên gọi đấy với chủ thể buôn bán khác trong cộng lĩnh vực và khu vực. Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, được Quốc hội Việt Nam khoá XI trong kỳ họp thứ 8 duyệt ngày 29/11/2005 Riêng về quyền tác giả, đây là quyền của tổ chức, những nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc với. Xem thêm : Luật sư sở hữu trí tuệ Quyền tác giả được ghi nhận cho các tác phẩm văn học, nghệ thuật, kỹ thuật như sách, bài giảng, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sàn diễn, tác phẩm điện ảnh, tác phẩm tạo hình và mỹ thuật vận dụng, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm kiến trúc, phần mềm máy tính. Quyền tác giả tự động phát sinh từ thời khắc tác phẩm được định hình dưới 1 hình thức vật chất cố định, bất nói tác phẩm đã ban bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình thông minh hoặc với, bao gồm các quyền sau đây: 1. Quyền Nhân thân - Đặt tên cho tác phẩm - Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được ban bố, sử dụng; - Ban bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; - Bảo kê sự vẹn toàn của tác phẩm, không cho người khác tôn tạo, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. 2. Quyền tài sản - Khiến tác phẩm phái sinh; - Biểu diễn tác phẩm trước công chúng; - Sao chép tác phẩm; - Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; - Truyền đạt tác phẩm tới công chúng bằng dụng cụ hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông báo điện tử hoặc bất kỳ phương tiện công nghệ nào khác; - Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính. Tác phẩm được bảo hộ theo cơ chế quyền tác giả là các tác phẩm trong ngành văn học, khoa học và nghệ thuật.